Nghịch lý nỗ lực
Khi phân tích về tình trạng bất an, Alan Watts đã đưa ra một khái niệm thú vị: “quy luật nỗ lực đảo ngược” (hay nghịch lý nỗ lực), tác giả còn gọi nó là “định luật đảo”. Để dễ hình dung, ông gợi hình ảnh: khi bạn cố gắng nổi lên mặt nước chính là khi bạn có thể chìm. Nhưng khi cố gắng chìm xuống, bạn lại nổi lên. Khi bạn cố níu giữ hơi thở, chính là khi bạn vuột mất nó.
Theo tác giả, tình trạng bất an đó, chính là kết quả của việc chúng ta luôn cố vùng vẫy tìm kiếm sự an toàn. “Chúng ta càng khao khát sự an toàn, nỗi bất an trong ta càng lớn”.
Theo tác giả, chúng ta đang sống trong thời đại âu lo. Ông lý giải, thật ra thời đại chúng ta đang sống cũng không bất an hơn thời đại nào khác - đói nghèo, bệnh tật, chiến tranh, những đổi thay và cái chết. Nhưng trong những giai đoạn an ổn nhất, người ta đã khiến cho nỗi bất an trở nên dễ chịu hơn nhờ niềm tin vào những điều bất biến mà mọi tai ương đều không thể chạm đến - niềm tin vào Thượng đế, vào linh hồn bất diệt của con người, và vào những quy luật vĩnh hằng mà theo đó vũ trụ vận hành.
Theo Watts, ngày nay những xác tín này trở nên hiếm hoi, kể cả trong các cộng đồng tôn giáo. Trong suốt thế kỷ qua, vị trí thống lĩnh của tôn giáo trong tâm trí đại chúng đã bị khoa học thế chỗ, và chủ nghĩa hoài nghi, ít nhất là trong khía cạnh tâm linh, đã trở nên phổ biến hơn các đức tin. Tình trạng suy thoái niềm tin bắt đầu từ sự hoài nghi chân thật, từ quá trình tư duy cẩn trọng và không nao núng của những con người thông tuệ trong giới khoa học và triết học.
Watts cho rằng, con người hiếm khi thỏa mãn với hiện tại. Chúng ta bận tâm nhiều hơn đến những việc có ký ức vui vẻ và những kỳ vọng tốt đẹp về tương lai đến mức có thể chịu đựng được hiện tại khốn khổ. Ở con người, cuộc sống dường như luôn ở trong một cuộc xung đột không hồi kết với chính nó. Để hạnh phúc, con người phải có được những thứ không thể có. Tự nhiên đã thai nghén trong con người những ham muốn chẳng thể nào thỏa mãn.
Nhiều người bị dằn vặt bởi quá khứ, lo lắng cho tương lai. Họ có một nỗi lo âu thường trực rằng bản thân đang bỏ lỡ điều gì đó, khiến tâm trí cứ chộn rộn, căng thẳng không yên. Hoặc họ thất vọng vì cứ phải đuổi theo một tương lai tốt đẹp ở một ngày mà chẳng bao giờ đến, trong một thế giới không có thứ gì trường tồn. Kết quả là “thời đại chúng ta đang sống trở thành thời đại của nỗi thất vọng, lo âu, của trạng thái kích động và nghiện các kiểu “chất kích thích”.
Về mặt nhận thức, Watts cho rằng trong đời sống thực tại, nhận thức phải bao gồm cả hạnh phúc lẫn khổ đau, cho nên nỗ lực tìm kiếm hạnh phúc mà loại bỏ khổ đau thực chất là nỗ lực để rồi đánh mất nhận thức. Mà đánh mất nhận thức chẳng khác nào cái chết, bởi vì càng nỗ lực để sống (trong vui thú), chúng ta sẽ càng giết đi những thứ mình yêu thích.
Từ những dẫn dắt trên, tác giả phân tích về niềm tin, đức tin, thuyết bất khả tri, khoa học, tôn giáo - những thứ liên quan, tác động đến niềm an ổn hay sự bất an của con người. Vậy để an ổn, chúng ta cần làm gì? Tác giả đưa ra hai giải pháp để người đọc suy nghĩ. Nhưng ông cũng gợi mở rằng đó không phải là những giải pháp duy nhất.
![]() |
Ngay lúc này bạn mới thật sự sống
Theo Watts, cuộc sống ngọt ngào khiến chúng ta chẳng muốn từ bỏ, nhưng càng đắm chìm trong nó, chúng ta càng bị mắc kẹt, càng bị giới hạn và thoái chí. Chúng ta yêu cuộc sống nhưng đồng thời cũng chán ghét nó. Chúng ta yêu con người và những thứ chúng ta sở hữu, để rồi lại bị dằn vặt bởi nỗi lo âu do chính những mối quan hệ đó gây nên. Sự xung đột không chỉ diễn ra giữa chúng ta và vũ trụ mà còn tồn tại trong bản thân chúng ta.
Mâu thuẫn là con người luôn mong muốn được an toàn tuyệt đối khi chúng ta sống trong một vũ trụ mà bản chất của nó là tạm thời và luôn biến đổi. Trong khi tính vô thường và luôn biến đổi của thế giới cũng là biểu hiện của sự sống động và hấp dẫn của cuộc sống, thì con người luôn muốn chống lại sự đổi thay, cố bám chấp vào sự sống cũng giống như nín thở: nếu cứ làm như thế, bạn sẽ tự giết chết mình.
Watts cho rằng não bộ con người biết rằng nó sẽ không có một tương lai dài vô tận, vì vậy, để hạnh phúc, nó phải cố gắng nhồi nhét tất cả những lạc thú vô hạn của thiên đường vào quãng thời gian sống hữu hạn. Đây là nguyên nhân khiến con người phải sống trong nỗi thất vọng cứ tái diễn liên tục.
Và theo tác giả, ở đây có vấn đề do sự tách biệt giữa cái “tôi” ý thức và phần “tôi” còn lại, giữa trí não và cơ thể, giữa con người và tự nhiên. Cần chấm dứt tất cả những cái vòng lẩn quẩn mà sự tách biệt này gây ra.
Theo tác giả, cuộc rượt đuổi không ngưng nghỉ của con người theo những mục tiêu không cố định, như thành công về mặt tài chính, ổn định hay giải thoát khỏi khổ đau, là vô ích. Chỉ bằng cách thừa nhận những gì chúng ta không biết, chúng ta mới có thể biết được điều chúng ta thật sự cần biết.
Và có thể nói, chương sâu sắc nhất trong “Minh triết từ nỗi bất an” chính là chương “Nhìn nhận lại tôn giáo”. Nó gợi rất nhiều suy ngẫm về bản chất của khoa học và tôn giáo trong sự tồn tại và ứng xử của con người để hiểu và tìm kiếm sự bình an.
Bằng sự chiêm nghiệm từ triết lý và tôn giáo phương Đông, Alan Watts gợi mở cho chúng ta biết cách làm như thế nào để sống một đời sống trọn vẹn hơn. Nhận thức cốt lõi của Alan Watts là: khi dành phần lớn thời gian nuối tiếc quá khứ và lo lắng về tương lai, chúng ta không thể nào tiếp xúc trọn vẹn với thực tại, bởi vì thực tại là ngay lúc này và chính ngay lúc này bạn mới thật sự sống.
Theo Watts, “Bộ não chỉ có thể vận hành đúng khi ý thức làm đúng chức năng thiên bẩm của nó: không cố né tránh thoát khỏi trải nghiệm hiện tại, mà thư thái nhận biết hiện tại”.
“Minh triết từ nỗi bất an” được xem là quyển sách kinh điển, có giá trị vượt thời gian. Thông điệp Watts muốn chia sẻ với chúng ta là: sự chắc chắn và bình an thật sự chỉ đến khi ta hiểu rằng vô thường và bất an là bản chất của sự hiện hữu của chúng ta.